Đêm ở thành phố này những năm 90, khi phố phường vắng lặng, dường như cả thành phố bị nuốt chửng trong một màn đêm sâu thẳm, lạnh lẽo đến rợn người. Ánh đèn đường vàng vọt tỏa ra thứ ánh sáng yếu ớt, như sắp tắt lịm, chỉ đủ để vẽ nên những bóng hình mờ mờ ảo ảo. Bóng tối không chỉ phủ lên những con đường mà còn dường như lan tỏa từ chính những ngôi nhà im lìm, trống rỗng. Những ngôi nhà mái ngói đỏ, hay bằng tôn cũ, tường rêu phong, giờ đây như những thân xác câm lặng, đứng trơ trọi trong bóng đêm. Cửa sổ đôi khi mở hé một cách vô hồn, bên trong tối đen như vực thẳm. Có người nói rằng, vào những đêm khuya, nếu bạn đứng lâu trước một căn nhà như vậy, bạn có thể cảm nhận được một đôi mắt vô hình đang quan sát từ bên trong, như thể căn nhà ấy đang sống, đang thở, và nó biết rõ bạn đang ở đó. Tiếng gió lùa qua hàng cây bên đường nghe như những tiếng rít của kẻ bị đày đọa, vang vọng trong đêm tối. Thỉnh thoảng, từ xa xa, có tiếng chân bước lộp cộp, nhưng khi ngoảnh lại thì chỉ thấy con đường trống trải, dài bất tận, không một bóng người. Đôi lúc, có một làn khói mỏng từ đâu đó lan ra, len lỏi giữa những ngôi nhà, mờ ảo như hồn ma vừa đi qua. Không ai biết khói đến từ đâu, nhưng mỗi khi nó xuất hiện, không khí trở nên nặng nề, lạnh buốt đến thấu xương. Người dân nơi đây thường bảo nhau không nên ra đường sau nửa đêm. Có kẻ đã thấy một bóng người đứng lặng lẽ dưới ánh đèn đường, không chuyển động, không lên tiếng. Bóng ấy đứng đó, lặng yên nhìn theo từng người bước qua, đôi khi biến mất một cách kỳ quái sau vài cái chớp mắt. Nhưng nếu bạn dừng lại và nhìn kỹ, bạn sẽ nhận ra điều đáng sợ nhất: ‘’đôi mắt của nó không có lòng đen, chỉ là một màu trắng đục như mắt kẻ chết chìm.’’ Không gian dường như luôn bị lấp đầy bởi những tiếng thì thầm không rõ nguồn gốc, tiếng gọi xa xăm vang lên từ một nơi không xác định. Nhiều người kể rằng họ nghe thấy những giọng nói gọi tên mình trong màn đêm, nhưng khi ngoảnh lại, chỉ có bóng tối sâu thẳm chào đón họ. Và vào những đêm u tối nhất, khi sương mù dày đặc từ sông tràn vào, cả con đường biến thành một cõi mờ mịt, nơi thực và ảo nhập nhằng, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh như một hơi thở.
Chú Tuấn đều đặn mỗi ngày như mọi ngày dù nắng hay mưa, ban ngày chú đạp chiếc xe đạp cọc cạch đến những khu chợ lớn để thồ hàng. Đến tối, sau khi cơm nước xong chú lại đạp xe, phía sau còn chở theo 1 sọt tre. Xung quanh sọt là lớp vải dày, bên ngoài là lớp bao bố, bên trong còn có những ổ bánh mì nóng hổi. Vừa đi chú vừa rao to:
— Bánh mì đây, bánh mì nóng đây… 1 ngàn 3 ổ…
Chiếc xe đạp đó chạy qua cây cầu cũ, chạy qua những con đường to nhỏ khác nhau, chạy ngang qua những ngôi nhà tranh, nhà tôn liêu xiêu. Nhà ai mà thuộc loại giàu có thì có được cả nhà xây bằng gạch. Thời gian này không có những công trình đắt đỏ, không có những cây cầu hoành tráng. Mọi thứ mới đơn sơ giản dị làm sao. Bây giờ cũng đã hơn 8 giờ tối rồi nhưng xe bánh mì của chú Tuấn còn nhiều lắm, nghĩ bụng nên chú mới chạy xa hơn, chạy xuống mấy xóm dọc bờ sông. Mà muốn xuống đó phải đi ngang qua 1 đoạn đường tối, tuy tối nhưng nó chính là đường tắt. Mà đường tắt này đâu chỉ có riêng mình chú Tuấn biết đâu. Vừa đạp xe, chú Tuấn vừa huýt gió nữa, trăng cũng lên cao, sáng soi cả con đường đi. Lúc đi ngang qua khúc gần bờ sông, chú thấy có ai đó đang ngồi ngay bờ sông cố kéo cái gì đó. Nhìn bóng dáng sau lưng thì đó là con gái, không nghĩ ngợi nhiều chú Tuấn mới rọi đèn pin gắn trước đầu xe đạp qua đó mà hỏi:
— Ê nhỏ, giờ này còn làm gì đó hả?
Thấy hỏi tới hỏi lui mà đứa con gái đó không trả lời, chú bèn xuống xe chống cái chân chống và đi qua bên đó. Chú vừa đi vừa hỏi:
— Nè, làm cái gì đó mà gọi hoài không trả lời…
Cô gái kia vẫn không quay lại, cố gắng kéo tiếp, cho tới lúc chú Tuấn lại sát bên, tay đặt lên vai người đó mới quay lại:
— Nè, làm gì đó, có cần tôi phụ không?
Cô gái mới quay lại, khuôn mặt hầu như bị che đi nhiều bởi tóc loã xoã, cô gái đứng lên nói với chú Tuấn:
— Kéo giúp con… nó nằm dưới đó…
Chú Tuấn mới nhìn xuống thì đó là mặt sông phẳng lặng, tối thui và có phần thúi quắt. Chú nhìn người con gái đó nhíu mày:
— Con rớt cái gì ở đây vậy, nó thúi quắc, tối thui sao mà tìm?
Nhìn qua dáng vẻ thì đó là cô gái nhỏ, nhìn tuổi nó chú Tuấn đoán là cỡ tuổi con Hận. Vì không giúp được nên chú khuyên nó:
— Về đi con, rồi mai nhờ người giúp, chứ chú không giúp được đâu nghe. Tối thui à, có thấy đường đâu mà mò.
Cô gái nhỏ vẫn đứng im đó, đôi tay níu vào tay chú Tuấn nài nỉ, đôi tay lạnh ngắt như đông lạnh. Chú Tuấn đoán chắc nó ra đây vọc nước lâu rồi nên tay lạnh vậy:
— Chú kéo lên… chỉ có chú mới kéo lên được…
Chú Tuấn đẩy tay nó ra rồi bật cười, đứa con nít nào cũng tưởng người lớn là cái gì cũng làm được hay sao á chứ. Chú lại xe bánh mì, vừa đi vừa nói với nó:
— Về đi con, mày ra đây từ khi nào mà tay lạnh ngắt vậy?
Sau đó chú Tuấn cầm lấy ổ bánh mì rồi lại dúi vào tay nó:
— Mày cầm ổ bánh mì này ăn rồi về đi con, mai sáng nhờ người lớn kéo lên biết không? Hay nhà mày ở đâu, chú chở về cho.
Đứa con gái vẫn đứng đó trân trân, chú không đứng lại với nó nữa, chú còn phải đi bán chứ không mai nhà chú ăn bánh mì trừ cơm quá. Chú Tuấn lại tiếp tục đạp xe đi qua con đường đó, với tuổi của nó thì nhất định nó sẽ không liều mà nhảy xuống đó đâu. Đêm hôm đó chú Tuấn đi bán đến tối muộn mới về nhà lận, lúc về còn vướng chút mưa của đêm muộn.
[…]
Ngày hôm sau, như mọi khi, trước khi đi bán bánh mì, chú Tuấn mới mang tô cơm qua cho bà Năm. Bà Năm là bà ngoại con Hận, bà già rồi, mắt mũi tèm lem, nhìn không có rõ gì hết. Bà Năm xưa nay ở với con gái, con gái bà Năm cũng có chồng rồi sinh ra đứa con gái, ông chồng bỏ đi gái gú biệt xứ. Con gái bà Năm mới đặt tên đứa nhỏ là Hận, ngay cái tên thôi cũng đủ biết con gái bà Năm đã u uất thế nào. Vì Hận mà sinh ra bệnh, vậy là mất, để lại bà Năm phải đi bán vé số, lượm thêm ve chai mới đủ nuôi con Hận.
Chú Tuấn vừa đến cửa nhà đã gọi lớn:
— Cơm tới bà Năm ơi…
Trong cái tối lờ mờ của căn nhà cũ dột nát, đơn sơ, mái làm bằng tôn rét cũ kỹ. Mái hiên trước nhà được che phủ bởi miếng vải cũ cho khỏi nắng. Trong nhà đồ đạc sơ sài cũ kỹ, ánh sáng ban đêm chính là ngọn đèn dầu loe lói yếu ớt trên bàn. Bà Năm miệng móm mém cười hiền:
— Chú Tuấn mới qua hả?
— Con đây.
Chú Tuấn lại vặn lên ngọn đèn dầu cho sáng hơn nữa, rồi đặt tô cơm lên bàn mới dìu bà Năm từ cái giường tre ọp ẹp qua cái bàn gỗ cũ:
— Qua ăn cơm đi bà Năm.
— Cảm ơn chú nghe, phiền chú quá.
— Phiền gì đâu mà phiền, thôi bà Năm ăn đi nghe. Con đi bán à.
— Ờ, chú đi.
Chú Tuấn mỗi lần đi ra khỏi căn nhà nhỏ đó, trong lòng lại nặng trĩu làm sao. Một người già cô đơn đến tội, mắt mũi kèm nhèm cô độc trong căn nhà tối. Cũng may ở đây hàng xóm không ai nói ai chứ tới bữa vẫn mang đồ ăn qua cho bà Năm. Nhìn vậy nên chú tức con Hận lắm, ba nó đã vậy mà nó cứ đi tìm làm gì. Đi tuốt mấy tháng còn chưa về, nó mà về chắc chú ký đầu nó quá.
